Cách đây khoảng chừng 10 đến 20 năm, khi đó trạng thái tiến hóa tâm thức của số đông đa phần là tiêu cực. Nếu chúng ta chú ý thì thấy rằng truyền thông báo chí thời đó đa số đều đăng tải những thông tin tiêu cực. Thậm chí, chúng ta cũng không biết bởi vì xã hội tiêu cực nên báo chí mới đưa tin như thế, hay là bởi vì báo chí đưa tin như thế nên xã hội mới tiêu cực. Chúng ta bị nhầm lẫn, không có rõ giữa nhân và quả, cái nào là nhân, cái nào là quả. Nhưng có thể nói, xã hội của chúng ta khi đó khá tiêu cực.
Mọi thứ đều do ký ức chi phối. Chúng ta phải nhìn nhận cái thực trạng của mình khi đó. Là một dân tộc chỉ vừa mới thoát khỏi chiến tranh, chỉ mới chuyển hóa chiến tranh thành hòa bình chỉ trong mấy mươi năm. Có rất là nhiều thứ cần phải xử lý như đói, dốt, mù chữ, văn hóa, môi trường, y tế, giáo dục, quan liêu, tham nhũng … Những tiêu cực này khiến đời sống của người dân rất khổ, rất tội. Những người nông dân sống trên những cái mảnh đất mà có quá nhiều loại thuế. Khí hậu khắc nghiệt, mọi người đối xử với nhau rất có “giai cấp”. Những ký ức như thế khiến cho chúng ta rất khó để nhìn nhận mọi thứ màu hồng, rất khó để có thể sống một cách vô tư, vô vụ lợi, bình thản, an lạc, nhẹ nhàng, dịu dàng… Một thế hệ đã đi qua chiến tranh và có nhiều tổn thương, nhiều sự chia biệt mà chưa thể hàn gắn kể cả đến tận bây giờ. Thế hệ ông bà, bố mẹ, và kể cả sau này, những đứa con của họ cũng sẽ kế thừa dòng chảy ký ức từ chính gia đình và tổ tiên. Cho nên bên trong chúng sẽ có rất nhiều ký ức về sự bất an, về sự lo lắng, về sự giận dữ, về sự thiếu hòa hợp, về sự chia biệt…
Những ký ức về chiến tranh, gây chiến, về sự sống còn khiến con người muốn sống phải ích kỷ, phải nghĩ đến bản thân mình.
Mô thức này thể hiện rất rõ khi mà chúng ta tham gia giao thông. Chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân mình. Chúng ta tham gia giao thông với một văn hóa không phải là văn hóa “đèn xanh đèn đỏ”, mà chỉ đơn giản là văn hóa “điền vào chỗ trống” (tức là cứ chỗ nào có chỗ trống, thì xe sẽ đi vào chỗ đó). Điều đó gây ra một sự ùn tắc, một nút thắt, và dần dần dẫn đến kẹt xe cả một khu vực. Đó là một văn hóa giao thông theo kiểu là mình chỉ nghĩ đến bản thân mình, tức là làm sao để mình đi đến đích nhanh nhất (hay đi đón con mình đúng giờ), hay là mình đi về nhà, muốn thoát khỏi cái chốn “địa ngục” này sớm nhất. Tất nhiên mình khổ nên mình muốn thoát khỏi, nhưng cái sự thoát khổ của mình nó gây ra cái khổ cho người khác.
Từ đó, trong xã hội có rất nhiều sự tiêu cực. Từ một mô thức tham gia giao thông như vậy có thể thấy cả một dân tộc hay rất nhiều con người trong dân tộc đó thật ra cũng là nô lệ của ký ức. Nhiều ký ức về sự bất an, lo lắng, ích kỷ, tranh giành, thiếu thốn tài nguyên, thiếu thốn nguồn lực. Vì ký ức của chiến tranh nên phải dành về phía mình, phải sống sót, phải ích kỷ thì mới vượt qua được. Như vậy, từng người là nô lệ của ký ức, dòng họ tổ tiên mình cũng là nô lệ của ký ức, đất nước dân tộc của mình cũng là nô lệ của ký ức.
Con người có được tự do thực sự, tự do đầu tiên, và tự do cuối cùng – chính là tự do khỏi ký ức của mình.
Người làm được điều đó gọi là Phật. Phật là người đã thật sự tự do khỏi ký ức. Bởi vì Phật đã rất nghiêm túc đi sâu trên con đường khai tâm, và đã thực sự tự do. Tự do đầu tiên là vì đầu tiên chúng ta chưa bị ràng buộc bởi ký ức, nhưng chúng ta tích lũy ký ức, tích lũy nghiệp quả để sau đó mình có một cái khối nghiệp quả sâu dày. Một dòng chảy tâm thức với rất nhiều ký ức chưa được sửa chữa, chưa được thanh lọc. Tự do cuối cùng là vì mình đã thực sự có thể thanh lọc, buông bỏ được tất cả những ký ức đó một cách đúng đắn và cân bằng. Vì thế, ta mới gọi là tự do đầu tiên và tự do cuối cùng. Không phải tự do là mình thích làm gì thì làm, vô trách nhiệm với rất nhiều vai trò. Không phải tự do theo kiểu gây ra cái khổ, ràng buộc cho người khác. Đó không thực là tự do mà chỉ là sự chiếm hữu của bản ngã, sự ích kỷ của cái tôi. Đó vẫn là nô lệ, ràng buộc, bám víu, dính mắc vào ký ức. Vì có những ký ức “thiếu tự do” nên mới muốn tự do theo kiểu phủ nhận mọi trách nhiệm. Rốt cục thì vẫn không tự do, vẫn là nô lệ của loại ký ức thiếu tự do trong quá khứ.
Chúng ta phải trải qua một thời kỳ rất tiêu cực, rất khó để tích cực. Xã hội tiêu cực nên báo chí cũng sẽ phản ánh hiện thực đó. Khi phản ánh hiện thực, điều đó vô tình nuôi dưỡng cho hiện thực này tiếp tục được gia cố vững vàng. Bởi vì hai chiều kích này nó có sự phản chiếu lẫn nhau giống như là một thế giới song song.
Thế thì ở trong thời kỳ khoảng 10 – 20 năm trước đây, chúng ta rất là tiêu cực, và khi chúng ta tiêu cực như thế, thì như một người” sắp chết đuối”. Thứ mà người sắp chết đuối cần chính là một “cái phao” để có thể kịp thời túm lấy và không bị đuối, không bị chết. Khi đó, chúng ta túm lấy một cái phao có tên là “suy nghĩ tích cực” tiếng Anh là “positive thinking” . Xuất phát từ văn hóa của phương tây, phương tây rất chủ động trong việc có thể thao túng và kiểm soát được suy nghĩ của chính mình. Vì tính tâm trí, tính logic, tư duy của các dân tộc phương Tây vốn là thế mạnh của họ.
Văn hóa của người phương Tây rất tích cực. Họ có thể khen ngợi, có thể nhìn nhận mọi thứ một cách rất là tích cực, không dễ để kêu ca, than phiền, than vãn, và họ còn rất chủ động nhận trách nhiệm, nhìn thấy được chiều kích tích cực của sự việc, từ đó tự “sạc pin”, tự “sạc năng lượng” cho mình, để có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề. Khi đó, xã hội chúng ta cần cái đó vì chúng ta “sắp chết đuối” nên chúng ta rất cần tư duy tích cực. Đó là một phần của “lập trình ngôn ngữ tư duy”, viết tắt là NLP.
Đó là lý do vì sao những cái giảng dạy về NLP thì cần thiết cho sự tiến hóa vào lúc đó. Cách đây hàng chục năm thì nó rất cần thiết. Tuy nhiên, chúng ta đã và đang chứng kiến một sự chuyển dịch về tâm thức của xã hội. Nếu như cách đây hàng chục năm chúng ta rất tiêu cực thì đến cái thời điểm này chúng ta liệu có tích cực? Không hẳn là như thế nhưng những hạt giống của tư duy tích cực đó được gieo trồng sau rất nhiều năm. Đến nay, nó nở hoa rất rạng rỡ ở trong giai đoạn gần đây. Chúng ta có một thế hệ những người thuộc gen Z, những người biết “enjoy life” với phương châm là “chỉ sống có một lần”.
Vì họ nghĩ rằng mình chỉ sống có một lần thôi nên sẽ tận hưởng cuộc sống và biết cách suy nghĩ tích cực hơn. Họ không bao giờ “đâm đầu” vào công việc như nô lệ. Tất nhiên, mọi thứ luôn có hai mặt. Mặt tích cực là họ biết cách thưởng cho bản thân bằng những giây phút thư giãn, những chuyến đi chơi, hoặc những chuyến du lịch xả stress. Tuy nhiên, điểm trừ là, khi họ mới làm việc đâu đó được một tháng, chỉ nghe vài lời phê bình từ sếp cũng có thể làm cho họ không chịu nổi. Họ tự ái và tự “book vé” đi du lịch Đà Lạt, quên hết công việc, phủ hết mọi trách nhiệm, và sẵn sàng đối mặt với sếp, nói rằng nếu sếp muốn thì họ nghỉ việc. Đây là cách sống của họ.
Xã hội đang tích cực dần. Một biểu hiện rõ ràng của xu hướng tích cực dần lên là một trào lưu trong thời gian gần đây. Chúng ta chứng kiến phong trào này trong một sự ngỡ ngàng đó chính là “trào lưu Flex”. “Flex” thật khó để đưa ra một cái định nghĩa chính xác nhưng nó giống như là chia sẻ một điều tích cực về bản thân hay là khoe một cách tích cực, khoe nhưng không khiến cho thiên hạ phải “ghét”. Ví dụ mình “Flex” về chuyện có nhà lầu xe hơi, hay mình “Flex” về chuyện kiếm tiền xây nhà khi mới 25 tuổi. Flex một cách tinh tế thì người ta rất ủng hộ. Gọi là “mê cái cách anh ấy flex”.
Một group trên Facebook về “Flex” thành lập chỉ mới vài tuần mà số người tham và có tốc độ tăng trưởng rất nhanh nhất lịch sử Facebook tại Việt Nam (ở thời điểm khi bài giảng này được mang đến cộng đồng – đây là bài do thiền sinh viết lại). Không phải tự nhiên mà có cách đây 10 năm hay 20 năm, bạn không thể “Flex” và không bao giờ có được trào lưu “Flex” như vậy. Nếu như bạn “Flex”, có thể người ta sẽ nói là bạn thật là kiêu ngạo. Thế nhưng bây giờ, khi sự tích cực trong xã hội lên ngôi, nhiều người có thể “Flex” một cách tự hào, và… “Flex” trong sự bình an.
Tất nhiên, mọi thứ đều có tính hai mặt: điểm cộng và điểm trừ. Chính vì xã hội tích cực hơn nên chúng ta sẽ phải xử lý một số những hậu quả của lối tư duy tích cực mà chúng ta đã gieo trồng và trong tâm thức của mình trong suốt hàng chục năm qua.
Lấy ví dụ như: Giả sử có một con đà điểu đứng trên cát. Nó thấy một con sư tử đến gần, đang nhìn chằm chằm vào nó và chuẩn bị nhào đến vồ nó. Con đà điểu này sẽ làm gì? Con đà điểu này sẽ có hai trường phái: trường phái thứ nhất con đà điểu này là một bậc thầy về NLP, nó đã tu tập tư duy tích cực trong một thời gian rất lâu. Ngay khi đó, nó sẽ làm gì? Theo thói quen, theo cái quán tính tư duy tích cực của nó, nó sẽ vùi đầu xuống cát và khi vùi đầu xuống dưới cát nó sẽ tự nói với bản thân mình rằng: “Con sư tử này không có thật, tôi ổn thôi, tôi bình an, tôi hạnh phúc, tôi hoàn toàn an toàn, tôi dùng sức mạnh tâm trí và hình dung nó không có thật. Con sư tử biến mất!”. Và “số phận” của con đà điểu này như thế nào thì bạn có thể tiên đoán được. Bạn biết đấy, đà điểu là một trong những sinh vật chạy nhanh nhất của hành tinh này, nó có sức bền hơn sư tử nếu chạy một quãng đường dài chứ không phải đua nước rút cự ly ngắn. Nếu như nó bỏ chạy, có thể có một tia hy vọng dành cho nó. Nhưng khi, đà điểu hành xử theo kiểu “tư duy tích cực” như thế, thì nó chỉ ổn ở trong một khoảnh khắc nhất thời, còn sau đó, giống như nó đang tự đào hố làm “mồ” chôn chính mình.
Giống như rất nhiều người, họ đang gặp rất nhiều đau khổ trong cuộc sống, họ không thực sự chuyển hóa được những ký ức dẫn đến đau khổ đó, nhưng họ vẫn cố tạo ra ảo tưởng rằng: “Tất cả ổn hết!”. Hay, một số người còn chối bỏ sự thật, chối bỏ việc đối diện với sự thật. Họ “bóp méo” sự thật và muốn nhìn sự thật theo cách họ lập trình cho “ngôn ngữ tư duy” của họ.
Nếu như bạn là một người đang rất là đau khổ thì việc bạn phủ nhận đi cái khổ của mình, bạn không đối diện với nguyên nhân dẫn đến khổ mà bạn chỉ “nhìn vào gương” và nói rằng “tôi không khổ, tôi hạnh phúc lắm”. Về lâu dài, trên gương mặt bạn sẽ xuất hiện năng lượng của sự trống rỗng từ bên trong khi không có sự đủ đầy, sự thành toàn.
Chúng ta có thể cảm nhận được năng lượng của một số người là “bậc thầy” NLP – họ cực kỳ bạo lực với tâm thức của chính họ. Chúng ta có thể cảm nhận được năng lượng cực kỳ thúc ép, ép buộc, và bạo lực với tâm trí của họ. Sự bạo lực đó thể hiện qua tất cả những cái lời nói của họ. Họ có thể có một xu hướng là “chửi thề” rất nhiều. Họ sẽ nói rằng đó là phong cách của họ. Đó là một cách để họ tạo ra “ấn tượng” cho đám đông – để có thể thao túng và chi phối được tâm lý của đám đông. Đó chẳng qua chỉ là một kỹ thuật của đào tạo, của một trainer. Nhưng thật ra, nếu như bạn tu tập và cảm nhận được năng lượng. Bạn sẽ hiểu rằng khi họ chửi thề nhiều như vậy, đó chỉ là một sự bất lực ở trong tâm trí của họ. Đó là một cách để họ có thể “release” – giải tỏa rất nhiều những ký ức về sự bạo lực, sự thúc ép với tâm trí của mình. Sự bạo lực đó giống như một ngọn núi lửa đang trào dâng, họ không thể dung chứa nổi “ngọn núi lửa” đó và họ “mượn” những khán giả bên dưới là những người hấp thụ cái năng lượng đó giùm cho họ. Giống như con đà điểu kia, nó vừa vùi đầu vào cát, vừa tự NLP, vừa chửi thề.
Con đà điểu của chúng ta có hai trường hợp: một trường hợp nó sẽ hành xử theo kiểu NLP. Trường hợp số 2, con đà điểu này biết “thiền” và tu tập một cách chuyên sâu, biết làm việc với những ký ức của chính mình. Con đà điểu này sẽ nhìn sự thật như nó vốn là, sẽ chấp nhận sự thật. Khi chấp nhận được sự thật, nó mới có thể thực sự yêu thương bản thân mình một cách đúng đắn. Nếu không, mọi thứ kể cả yêu bản thân cũng chỉ là một sự tự mình lừa dối chính mình. Sự thật là có một con sư tử ngay trước mặt, và con sư tử là chúa tể sơn lâm. Sự thật là con sư tử như động vật đứng đầu trong “chuỗi thức ăn”, và nó ăn những con khác… Sự thật là mình (đà điểu) sắp mất mạng. Chỉ khi đối diện với sự thật thì chúng ta mới có một tia sáng hy vọng và có thể thoát khỏi cái khổ của chính mình.
Đó là lý do ở trong Tứ Diệu Đế, Phật không dạy chúng ta về tư duy tích cực, mà Phật dạy phải chấp nhận là mình đang khổ, phải nhìn nhận cái khổ là cái gì. Mình biết khổ là gì thì mình sẽ biết là mình có đang khổ hay không? Từ đó, mình biết nguyên nhân của cái khổ là gì? Khi có thể thanh lọc nguyên nhân của khổ thì ta sẽ thanh lọc được cái khổ của mình. Từ đó, ta mới đến giảng dạy tiếp theo như “tám chiến lược tu tập” gọi là Bát Chánh Đạo. Đối diện với sự thật, chấp nhận sự thật, nhìn sự thật như nó vốn là, khi đó “đà điểu” mới có được tỷ lệ phần trăm là có thể sống sót, thoát khỏi con sư tử đó – thoát khỏi cái khổ.
Với hai phân tích vừa rồi, con đường tu tập tâm linh một cách đúng đắn và sâu sắc thật ra khác với con đường tu tập theo hướng muốn điều chỉnh tâm trí của mình, thay đổi sự thật, phủ nhận sự thật. Chúng ta có thể hiểu là trong mỗi giai đoạn tiến hóa của xã hội, chúng ta sẽ cần những cái giảng dạy cấp tiến khác nhau.
Cách đây 10 – 20 năm, chúng ta cần suy nghĩ tích cực, cần NLP, vì chúng ta quá tiêu cực. Chúng ta nhìn một ly nước đầy một nửa, nhưng lại nghĩ tiêu cực là ly nước này “vơi” một nửa. Như thế, ta đang tập trung vào sự thiếu thốn của mình, thế nên cần phải tập để suy nghĩ tích cực.
Nhưng về lâu dài, điều này không tốt, chúng tôi đã gặp những người đã phải nhận những hệ quả rất là nghiêm trọng từ Luật Hấp Dẫn, từ tư duy tích cực. Những hậu quả nghiêm trọng xảy ra trong cuộc đời của họ chỉ vì họ quá bạo lực với tâm trí của chính mình. Đến một lúc nào đó, tất cả mọi thứ có thể vụn vỡ và tan rã toàn bộ. Đó cũng chính là bài học dành cho họ.
Bởi vì ảo tưởng có tính giáo dục, tất cả mọi thứ là bài học để ta có thể tiến hóa lên. Thế cho nên bạn thấy đó, đến cái chu kỳ này của sự tiến hóa thì chúng ta cần những giảng dạy cấp tiến hơn, sâu sắc hơn.
Tư duy tích cực như là một bước đệm. Nó chỉ là một bước đệm để chúng ta có thể đi đến với những giảng dạy tiếp theo, cấp tiến hơn sâu sắc hơn, giúp chúng ta có được sự bình an thực sự, niềm hạnh phúc thực sự, và sự hòa hợp thực sự.


